Thuế tài sản: không phải để tận thu!

Dư luận xã hội sau buổi họp báo chuyên đề trình làng dự án Luật Thuế tài sản của Bộ Tài chính (hôm 13-4) nói chung là phản đối. Vì sao 1 sắc thuế vốn phổ biến ở các nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ là ý tưởng đề xuất đã bị phản ứng dữ đội? Liệu điều đấy có xuất phát từ bản chất của loại thuế này, hay do lý do đặc biệt nào khác? Nếu ứng dụng thì nên xác định đối tượng chịu thuế, thuế suất… như thế nào? TBKTSG xin trình làng góc nhìn đa chiều của các chuyên gia kinh tế về vấn đề đang được độc đáo quan tâm này.



Cải cách cơ cấu thuế cần hướng tới việc phong phú hóa nguồn thu và tối thiểu hóa tác động của thu thuế đến sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thay vì tận thu cho chi tiêu ngân sách. Ảnh: Thành Hoa.

Dự thảo đánh thuế tài sản trong nội dung tờ trình của Bộ Tài chính lên Chính phủ mới đấy đã gặp phải sự phản ứng mạnh từ dư luận. Thuế luôn nằm trong các vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ giữa chính quyền và người dân, độc đáo trong trường hợp của Việt Nam, khi ngân sách nhà nước có được từ thuế được sử dụng thiếu hiệu quả. Tuy nhiên, tách bạch giữa việc ngăn chặn tham nhũng, lãng phí trong sử dụng ngân sách có việc phân tích tính hợp lý và cần thiết của 1 sắc thuế là điều nên làm.

Tính khả thi của thuế tài sản

Trên thực ở, thuế tài sản đánh vào có BDS là sắc thuế quan trọng và được ứng dụng phổ biến trên địa cầu. Ví dụ ở Mỹ, đấy là sắc thuế lâu đời nhất và đồng thời duy nhất hiện diện ở cả 50 tiểu bang. Không chỉ ở các quốc gia phát triển, sắc thuế này cũng có mặt ở cả các quốc gia trong khu vực ASEAN như Singapore, Malaysia, Indonesia hay kể cả Campuchia. Thái Lan đang trong GĐ tham khảo để ban hành sắc thuế này. Quốc gia có nhiều đặc điểm kinh tế tương đồng có Việt Nam là Trung Quốc cũng đang có kế hoạch ứng dụng vào năm 2019 sau nhiều lần đình trệ. Việc ứng dụng sắc thuế này ở Việt Nam nằm trong xu hướng chung của các nước đang phát triển trong khu vực.

Ưu điểm

Sự hiện diện rộng rãi của loại hình thuế tài sản xuất phát từ các thế mạnh của nó.

Việc ứng dụng thuế tài sản ép buộc phải đi kèm có việc giảm các loại thuế khác, độc đáo là thuế lương công ty, để giảm gánh nặng thuế chung của cả nền kinh tế. Giảm chi tiêu ngân sách chứ không phải tăng thu thuế!

Thứ nhất, thuế tài sản được coi là thân thiện có sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế phân khúc, gây ra ít méo mó nhất lên hệ thống tín hiệu phân khúc. Nếu như các loại thuế đánh vào lương (lương công ty, lương cá nhân) sẽ làm giảm động lực của các thực thể trong nền kinh tế (công ty, người lao động) hay các loại thuế đánh vào hàng hóa làm giảm tiêu dùng, thuế tài sản tác động ít hơn đến hành vi của các thực thể trong nền kinh tế. Vì nguồn cung đất gần như cố định, cân bằng cung – cầu phân khúc sẽ ít bị ảnh hưởng dưới tác động của thuế. Ngược lại, thuế tài sản có tác động tích cực trong việc ngăn chặn đầu cơ và hình thành bong bóng tài sản, thúc đẩy việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai 1 cách hiệu quả hơn.

Trong 1 tìm hiểu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) xuất bản năm 2009(1), kết quả tìm hiểu định lượng cho thấy thuế tài sản hỗ trợ tăng trưởng tốt nhất, thứ tự thứ hai là thuế tiêu dùng, thuế lương cá nhân và cuối cộng là thuế lương công ty. Kết luận này có thể càng đúng hơn có nền kinh tế có khu vực không chính thức lớn như Việt Nam, khi các loại thuế đánh vào lương và tiêu dùng sẽ làm dịch chuyển nguồn lực sang khu vực phi chính thức, tăng tính không minh bạch của nền kinh tế.

Thứ hai, thuế tài sản có tính lũy tiến và công bằng. Giá trị tài sản có có tương quan nghiêm ngặt đến mức lương thực ở của người có ở hai giác độ. Một mặt tài sản có giá trị cao sẽ tạo ra nguồn lương cao từ lợi tức tài sản cho người có, mặt khác người có lương cao sẽ tích lũy tài sản bằng cách có các tài sản có giá trị. Do đấy, thuế tài sản bản chất không phải là loại thuế lũy thoái như các sắc thuế đánh vào tiêu dùng. Nếu được kiến trúc thích hợp nó sẽ có tính lũy kế cao, chắc chắn tính công bằng khi người có lương cao hơn, tích lũy được nhiều tài sản hơn sẽ chịu thuế nhiều hơn. Thuế đánh vào có BDS và các loại tài sản khác cũng đang được nhiều nhà kinh tế cổ xúy như 1 biện pháp thu hẹp dao động cách lương đang càng ngày càng giãn rộng giữa tầng lớp giàu có có mặt bằng chung của xã hội.

Thứ ba, đứng về phía phương diện quản lý, thuế tài sản có thế mạnh ở tính ổn định của nguồn thu, ít bị ảnh hưởng bởi nhân tố chu kỳ kinh tế như các loại thuế đánh vào lương và hàng hóa tiêu thụ. Khả năng trốn thuế được cắt giảm khi cơ chế xác định giá trị tài sản theo giá phân khúc khá minh bạch, dễ ứng dụng. Đồng thời trong trường hợp người nộp thuế chây ỳ, không trả thuế, cơ quan quản lý có cơ chế hiệu quả để thực thi việc thu thuế bằng phát mại tài sản.

Cuối cộng, thuế tài sản có thể được sử dụng như 1 công cụ quản lý phân khúc BDS hiệu quả, độc đáo vấn đề có BDS của người nước ngoài ở Việt Nam. Trong GĐ GĐ này của Việt Nam, khi bong bóng BDS đang hình thành và mở rộng, việc triển khai sớm thuế đánh vào BDS sẽ là 1 công cụ giúp giảm vận hành đầu cơ trên phân khúc. Một mức thuế suất thích hợp cũng sẽ giúp giảm hiện trạng dự án treo, tạo sức ép lên các chủ đầu tư dự án trong việc phát triển các dự án thay vì đơn thuần chiếm giữ nguồn tài nguyên đất đai của xã hội.

Và các nhược điểm

Thuế tài sản cũng như bất kỳ 1 loại thuế nào cũng có các nhược điểm không mong muốn. Thậm chí thuế tài sản nằm trong số các sắc thuế bị phản đối nhiều nhất, kể cả ở các quốc gia phát triển. Những tìm hiểu định lượng cho thấy lý bởi thếng vai trò quan trọng tác động đến phản ứng của người nộp thuế là họ phải đấyng 1 khoản thuế trong 1 lần mỗi năm thay vì trải đều hàng tháng như có thuế lương cá nhân hay trong mỗi lần mua hàng như thuế tiêu dùng. Việc đấyng 1 lần gây hiệu ứng tâm lý lớn hơn và sức ép tài chính cho người nộp thuế.

Ngoài ra, thuế tài sản không dựa vào dòng tiền lương nên có thể gây gặp khó về khả năng thanh khoản của người nộp thuế, độc đáo là các người có giá trị tài sản lớn nhưng có dòng tiền từ lương thấp, hoặc giảm đột ngột trong 1 dao động thời gian. Việc ứng dụng thuế tài sản cũng không tuyệt đối loại bỏ được các trường hợp lách luật để tránh nộp thuế. Ví dụ, ngưỡng tài sản bắt đầu chịu thuế là 700 triệu đồng có thể làm tăng thêm việc đầu tư vào các sản phẩm BDS có giá trị thấp dưới ngưỡng, như đất nền ở các khu vực vùng ven.

Phải đi kèm có việc giảm các loại thuế khác

Việc ban hành sắc thuế đánh trên tài sản có lẽ chỉ là vấn đề thời điểm ở Việt Nam vì điều này nằm trong xu thế chung của các nước trong khu vực. Những lo ngại và phản ứng liên quan đến việc triển khai thực hiện thuế tài sản thực ra không phải nhắm đến bản chất của loại thuế này mà là gánh nặng thuế, phí chung mà khu vực tư nhân đang phải chịu. Mặc dù là 1 loại thuế có nhiều thế mạnh, việc thu thêm thuế tài sản nếu không đi cộng có việc giảm nguồn thu từ các loại thuế khác, đồng nghĩa có việc gánh nặng thuế của nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng lên, trong khi vốn đã rất cao. Theo số liệu từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), gánh nặng thuế (theo mật độ thu từ thuế/GDP) của Việt Nam ở mức xấp xỉ 18% GDP trong năm 2016, cao nhất và gần gấp rưỡi mức mật độ trung bình của các quốc gia ASEAN.

Cải cách cơ cấu thuế cần hướng tới việc phong phú hóa nguồn thu và tối thiểu hóa tác động của thu thuế đến sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thay vì tận thu cho chi tiêu ngân sách. Việc ứng dụng thuế tài sản ép buộc phải đi kèm có việc giảm các loại thuế khác, độc đáo là thuế lương công ty, để giảm gánh nặng thuế chung của cả nền kinh tế. Giảm chi tiêu ngân sách chứ không phải tăng thu thuế!

Goldenpeninsula.com – Theo TBKTSG

Tìm hiểu thêm tài liệu về dự án golden peninsula Xem Thêm